Lời khuyên nuôi dạy con của phụ nữ hiện đại

TRẺ SƠ SINH BÌNH THƯỜNG
04/08/2015
Lợi ích của phương pháp Nuôi dưỡng sinh học Skin-to-skin
06/11/2015

Lời khuyên nuôi dạy con của phụ nữ hiện đại

Tác giả: NATALIA VARELA & PABLO MUÑOZ – Chuyên gia tâm lý Hiệp hội Kangaroo Colombia

Phiên dịch: BS Lương Kim Chi – BV Từ Dũ

Ni dung
• Làm thế nào để trẻ cảm thấy yên tâm?
• Hội chứng trẻ dễ bị tổn thương.
• Cẩm nang nuôi dạy trẻ: làm thế nào xác lập những quy tắc và điều chỉnh hành vi của trẻ.
• Các vấn đề về giấc ngủ.
• Các vấn đề về ăn uống của trẻ.
• Bài tập kích thích cho trẻ.

I-Làm thế nào để trẻ cảm thấy yên tâm?

Bước thứ nhất:
• Hãy nhạy cảm với trẻ ngay từ khi trẻ mới sinh ra!!

Thế nào là nhạy cảm?
• Hãy đồng cảm, đáp ứng trẻ một cách phù hợp và sẵn sàng giao tiếp tâm lý với trẻ.
( thí dụ: khi chăm sóc trẻ , bạn có thể hiểu được trẻ đang bị đói , lạnh, đau…bạn vừa đặt câu hỏi cho trẻ cũng vừa tự giải đáp dần dần bạn sẽ đáp ứng được nhu cầu của trẻ)

Bước thứ hai:
• Đừng quá bảo bọc trẻ
• Đừng cảm thấy sợ hãi hay khổ sở khi chăm sóc trẻ.
• Hãy thích thú và thư giãn khi ở bên trẻ.

Bước thứ ba:
• Hãy nói chuyện, giải thích và lắng nghe trẻ ngay từ khi trẻ mới chào đời.
• Chỉ cần bằng giọng nói và sự vuốt ve, bạn có thể làm cho trẻ cảm thấy an tâm.
• Hãy luôn nói với trẻ và giải thích cho trẻ mọi điều ngay từ khi trẻ mới chào đời.
• Tiếp tục nói chuyện, giải thích và lắng nghe khi trẻ bắt đầu lớn lên: hãy hỏi han và tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra với trẻ

II- Hội chứng trẻ dễ bị tổn thương:

Thang điểm đánh giá:

Con của bạn có vẻ yếu ớt hơn những đứa trẻ cùng lứa tuổi không?
Bạn có thường đưa con đi bác sĩ không?
Con bạn có thường bị lây bệnh từ môi trường xung quanh không?
Con bạn có dễ bị tai nạn không?
Bạn có lo rằng con mình trông không được khỏe mạnh không?
Con bạn có thường bị đau bụng hay đau những phần khác trên cơ thể không?
Con bạn có ít năng động hơn các đứa trẻ khác không?
Bạn có thường giữ con ở trong nhà vì lý do sức khỏe không?
Ban đêm bạn có thuờng kiểm tra xem con mình thế nào không?
Bạn có cảm thấy lo lắng khi để con ở với người giữ trẻ không?
Bạn có cảm thấy có lỗi khi phạt con không?

Nếu bạn trả lời có 2 trong những câu hỏi trên , thì bạn sắp mắc vào hội chứng quá bảo bọc con cái làm chúng dễ bị rơi vào hội chứng trẻ dễ bị tổn thương và làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ. Nếu bạn trả lời có từ 3 câu hỏi trở lên thì bạn được xem là mắc phải hội chứng trên.

Bạn có đang làm cho con mình bị hội chứng trẻ dễ bị tổn thương không?

• Bạn quá lo lắng về con mình, cho dù đã nhiều lần bác sĩ đảm bảo rằng con bạn khỏe mạnh?
• Bạn luôn cho rằng con mình yếu ớt và dễ có vấn đề mặc dù con bạn khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần?
• Bạn có cảm thấy quá khó khăn khi phải xa con mình không?
• Bạn có thường xuyên nuông chiều con quá mức không?
• Con bạn có thường không bị buộc phải tuân theo những kĩ luật thích hợp không?
• Đôi khi bạn còn để cho con đánh, cắn, đá bạn khi nó tức giận?

Hậu quả và nguy cơ

• Trẻ sẽ bị chậm phát triển về vận động, ngôn ngữ và giao tiếp xã hội.
• Trẻ sẽ phát triển hành vi xấu và dễ tức giận.
• Trẻ sẽ có các vấn đề về giao tiếp xã hội trong nhà trường: đánh nhau, cô độc và bị bỏ rơi.
• Trong tương lai trẻ có thể bị trầm cảm
• Một số trường hợp nặng, khi lớn lên trẻ có thể tự vẫn.

Bạn có thể làm gì để con mình không mắc phải hội chứng trẻ dễ bị tổn thương?

Đối với các bậc cha mẹ và gia đình:
• Hãy cư xử với con như thể con bạn được sinh ra đủ ngày đủ tháng.
• Khi đánh giá sự phát triển của con và tập cho con hoạt động trong hai năm đầu đời, bạn hãy tính “tuổi được điều chỉnh” của trẻ ( thí dụ:con bạn 15 tháng nhưng sinh non 2 tháng thì phải tính là 13 tháng)

Đối với trẻ:
• Khuyến khích trẻ giao tiếp với những trẻ khác cùng lứa tuổi.
• Để trẻ tự làm lấy khi trẻ có thể, ta không nên vội vàng làm thay khi trẻ gặp khó khăn.
• Hãy để trẻ có cơ hội tự quyết định, tự lựa chọn điều mà chúng muốn làm.
• Cho trẻ được chơi đùa bên ngoài nhà, như ở công viên, các nhóm sinh hoạt.
• Khen ngợi trẻ khi trẻ tự mình làm được việc.
• Đừng vội can thiệp khi trẻ đang tìm giải quyết và xử lý tình huống.
( thí dụ: trẻ đang chơi với bạn mà bị bạn đánh thì ta không nên chạy đến lôi trẻ ra và la mắng bạn của trẻ mà ta phải quan sát xem trẻ sẽ xử lý tình huống hư thế nào)
• Đặt ra những mức giới hạn phù hợp cho trẻ và luôn tuân thủ những giới hạn đó.
(thí dụ: ta đưa ra qui định cho trẻ là không được ăn đồ ngọt trước bữa ăn, mọi thành viên trong gia đình đều phải tuân thủ qui định này kể cả khi trẻ bị bệnh cũng không được phá vở qui định, vì nếu có một người không tuân thủ trẻ sẽ biết và đến để mè nheo với người đó hoặc trẻ sẽ làm ra vẻ bị bệnh để được nuông chìu).
• Thiết lập những thói quen trong sinh hoạt để trẻ biết mình phải làm gì và có thể tự mình làm theo những thói quen đó.
• Đừng nói thay trẻ nếu như trẻ có khả năng tự diễn đạt.

Cẩm nang nuôi dạy trẻ

Tập tuân thủ các quy định:
• Nuôi dạy là quá trình bắt đầu ngay từ khi trẻ mới chào đời cho đến tuổi thanh niên, là quá trình diễn ra từ từ.
• Đây là quá trình cha mẹ chăm sóc, khuyến khích, dạy dỗ và khuyên bảo trẻ.
• Yếu tố cơ bản trong việc nuôi dạy là cho trẻ ý thức được trách nhiệm và những quy định trong xã hội.
(thí dụ: khi bạn bảo với trẻ không được chơi đá banh trong nhà sẽ làm bể đồ đạc, nhưng trẻ không ngừng và cuối cùng làm bể chậu hoa, lúc bấy giờ bạn không nên đánh trẻ mà bắt trẻ phải cùng dọn dẹp với bạn và đưa trẻ cùng ra tiệm để mua lại chậu hoa khác và nói với trẻ rằng tiền này thay vì để mua thức ăn hay đồ chơi cho trẻ bây giờ phải dùng để mua lại chậu hoa,để trẻ có ý thức trách nhiệm về việc làm của mình).
• Cẩm nang nuôi dạy trẻ nhằm giúp bạn có quá trình nuôi dạy con một cách đúng đắn.
• Cẩm nang nuôi dạy trẻ quan trọng bởi vì khi được sinh ra, trẻ không ý thức được đâu là tốt , đâu là xấu ( quy tắc xã hội), trẻ phải học từ cha mẹ.
• Những quy tắc này mang lại cho trẻ sự tự tin và độc lập.

Ai nên đưa ra quy tắc?
• Ngay từ khi trẻ mới chào đời, cha và mẹ trẻ phải là người đặt ra những quy tắc.
• Nếu không, trẻ sẽ nhận được những thông điệp khác nhau từ các thành viên trong gia đình và sẽ cảm thấy bối rối, lẫn lộn.

Bạn đưa ra quy tắc như thế nào?
• Đừng nóng vội thúc đẩy trẻ, bạn phải xem xét khả năng của con mình, hãy để trẻ từng bước tiến bộ.
• Cha và mẹ phải đồng lòng (sự đồng thuận giữa cha và mẹ), nêu gương (cha mẹ phải làm gương), và kiên quyết (không nhượng bộ trẻ).
• Hãy nói KHÔNG. Khi nói không phải kèm theo nét mặt kiên quyết nhằm tỏ rõ thái độ của bạn.
• Ngay từ khi còn rất nhỏ, trẻ đã có thể hiểu được tâm trạng và cảm xúc của người khác.
• Hãy lập ra lịch trình hàng ngày cho trẻ trong việc ăn uống, đi ngủ, đánh răng . . .

III- Những trục trặc về giấc ngủ.
Làm sao giải quyết?

GIẤC NGỦ BÌNH THƯỜNG

Tuổi………..Số giờ ngủ ban đêm…Số giờ ngủ trưa… Tổng số giờ ngủ

1 tháng…………………..8.5………………….8…………………16.5
6 tháng…………………..10.5…………………4…………………14.5
12 tháng…………………11…………………..2.5……………….13.5
2 tuổi……………………..11…………………..2…………………13.0

Vì sao con bạn không ngủ ban đêm?

Nếu con bạn quấy khóc ban đêm sau khi được 6 tháng tuổi:
• Có thể con bạn đã quen ăn ban đêm.
• Con bạn đã quen ngủ trong lòng hoặc trong tay mẹ
• Con bạn có thể cảm thấy sợ hãi.
• Con bạn có thể đã ngủ quá nhiều vào ban ngày.

Làm sao giúp trẻ ngủ ngon hơn?
• Bắt đầu xác lập giờ đi ngủ nhất định.
• Trước khi đi ngủ cần cho trẻ được yên tĩnh và thư giãn.
• Hát, kể chuyện cho trẻ nghe.
• Cho trẻ một búp bê hoặc một món đồ chơi.

IV- Vấn đề về ăn uống:

KHI TRẺ ĐƯỢC HƠN 6 THÁNG

• Đôi khi đơn giản là trẻ không muốn ăn.
• Giờ ăn phải là lúc để chia sẻ, không phải lúc gây đau đầu.
• Cố gắng thu xếp cho trẻ cùng ăn chung với gia đình.
• Làm món ăn trông đẹp mắt cho trẻ.
• Cố gắng dung hòa cái bạn muốn với cái trẻ muốn.
• Cố gắng ăn đúng giờ mỗi ngày.
• Trẻ cần bắt đầu uống bằng ly
• Thức ăn không phải là phần thưởng!!!

V-Bài tập kích thích
Cho trẻ từ 6 – 12 tháng

Từ 5 đến 6 tháng:
Tập ngồi:
Khi bé đang nằm ngửa, cầm hai tay bé và giúp bé từ từ ngồi dậy. Khi bé ngồi, hãy lấy gối cho bé dựa và để bé ngồi ở tư thế này trong một lát.

Từ 6 đến 12 tháng:
Tập bò:
Đặt bé ở tư thế bò rồi đặt một món đồ chơi trước mặt. Bé sẽ di chuyển đến trước để lấy món đồ chơi.

Từ 10 – 12 tháng:
Tập đi:
Đặt bé ở tư thế bò và bạn cũng ở tư thế bò. Khuyến khích bé bắt chước bạn và bò theo bạn.
Giúp bé thay đổi tư thế nằm, ngồi, đứng dậy
Cho bé đứng dậy với một vật hỗ trợ như gường, ghế . .
Dời đồ chơi sang bên cạnh

Tập nói:
Từ 6 đến 12 tháng:
Liên tục lập lại tất cả những từ bé nói như “ba ba, da da” .. Nếu bé cười hãy cười với bé. Cho bé nghe nhạc, hát cho bé nghe và dạy bé vỗ tay.

Sau 12 tháng:
Hãy tập cho bé nói. Nếu bạn không khuyến khích, bé sẽ không nói. Bé cần nói bập bẹ.
( thí dụ: bé muốn uống nước và chỉ vào ly nước ta không nên đưa cho bé ma bắt bé phải nói, dù bé cố nói là “nứ, nớ” cũng được , miễn sao phát ra âm là được , và khi bé nói như vậy ta khen bé nói giỏi, bảo bé “ lần sau con cố nói rõ hơn nhé” và ta lập lại từ “nước” cho bé nghe một lần nữa.)

Trả lời